Blog

  • Tứ Đại Thiên Vương Phật Giáo bao gồm những ai?

    Tứ Đại Thiên Vương Phật Giáo bao gồm những ai?

          Tứ Đại Thiên Vương Phật giáo có trách nhiệm hộ trì thế giới, duy trì sự an lạc, luôn học hỏi để biết nhiều, nhìn thấu mọi vật, giúp xã hội phát triển không ngừng,… Đây đều là những điều chính để tạo cảnh giới Cực Lạc và cũng là tâm nguyện của chư Phật.

                                   Tứ Đại Thiên Vương Điêu khắc đá Huỳnh Bá Minh

     

         Tứ Đại Thiên Vương trong Phật giáo hay còn được gọi dưới cái tên khác là “Tứ đại Kim Cương”.
    Tại các chùa thờ Phật, điện thờ Thiên Vương thường đặt ở vị trí rất dễ thấy. Bốn vị Thiên Vương với những phong thái khác nhau nhưng đầy vẻ uy vũ. Trang Phục của bốn vị cũng mang những màu sác khác nhau, đó là bốn đại bào màu xanh, trắng, lục và đỏ.

        Tứ Đại Thiên Vương trong Phật giáo được coi như là vị trí ban Cảnh vệ giúp bảo vệ chùa. Bốn vị vừa mang vai trò giữ gìn Phật pháp vừa duy trì sự ổn định xã hội, trông nom bốn phương tám hướng để mưa thuận gió hòa. Cũng vì lí do này mà Tứ Đại Thiên Vương cũng được coi là “Hộ thế Thiên Tôn” hay “ Tứ Đại Thiên Vương Hộ Pháp”. Theo kinh Phật của Ấn Độ thì bốn vị Thiên Vương là bốn vị tướng của Thiên Đế.

        Cũng theo truyền thuyết thuộc kinh Phật, thế giới này được phân chia thành bốn đại châu. Mỗi Thiên Vương cai quản và bảo vệ một Đại Châu. Nơi ở của các vị là đỉnh Thiền Đa La, nằm tại ngọn Tu Di thường được nhắc đến trong kinh sách nhà Phật.

        Tứ Đại Thiên Vương Hộ Pháp đại diện và bảo vệ cho bốn Phương với những tên gọi mang những ý nghĩa như sau:

    • Đông Thiên Vương Trì Quốc: giúp bảo hộ sinh linh, giữ gìn đất đai trong nước.

          Đông Thiên Vương – Điêu khắc đá Huỳnh Bá Minh

           Đông Thiên Vương tên của Ngài là Đa La Tra, ngài ngụ tại khu vực phía Đông núi Tu Di, vùng đất được làm hoàn toàn bằng vàng. Thiên Vương Trì Quốc có trách nhiệm trì hộ đát nước. Là người sinh sống trong một quốc gia cần có phải có nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm. Cụ thể là Ngài giúp duy trì sự bình an, ổn định đất nước để mọi người có thể yên ổn làm ăn, an cư lạc nghiệp. Ngài còn có nhiệm vụ tận tâm, dốc sức bảo vệ đất nước, giúp duy trì hòa bình, sự ổn định. Quan trọng nhất là giúp đất nước có cuộc sống bình an, ổn định và phồn vinh, “dân giàu nước mạnh”. Đây cũng chính là đạo lý mà người đang giữ vị trí lãnh đạo, quản lý đất nước hộ trì dân cần hướng tới.

       

    • Tây Thiên Vương Quảng Mục có khả năng mở to mắt quan sát thế giới.
    • Nam Thiên Vương Tăng Trưởng: mang trong mình khả năng kết hợp chúng sinh, phát triển thiện căn.
    • Bắc Thiên Vương Đa Văn  có nhiệm vụ bảo vệ đạo trường của đức Như Lai, thường được nghe đức Như Lai thuyết pháp, vì vậy tên Ngài có nghĩa là nghe nhiều biết nhiều.
  • Cách chọn trang sức bằng đá phù hợp với cung mệnh

    Cách chọn trang sức bằng đá phù hợp với cung mệnh

     

      Trang sức đá phong thủy không chỉ mang đến vẻ đẹp cho người sở hữu mà chúng còn mang đến những năng lượng tích cực vô cùng mạnh mẽ. Sức mạnh của loại trang sức phong thủy đối với con người đã được chứng minh. 

     

    mặt đá tỳ hưu bọc vàng

       Những đặc điểm của trang sức đá phong thủy:

       Trên thị trường hiện nay có vô vàn loại trang sức, phụ kiện làm đẹp để bạn lựa chọn. Trong đó có rất nhiều chất liệu ví dụ như kim cương, vàng, bạc, gỗ,… Và đặc biệt là những loại đá phong thủy.   Tất cả những loại trang sức này chúng đều có đặc điểm chung là những đẹp, bắt mắt. Và tất cả mọi người đều có thể dễ dàng chọn mua. Trong số đó TRANG SỨC ĐÁ PHONG THỦY được coi là vật phẩm số một. Chúng sẽ mang tới những giá trị phong thủy tuyệt vời cho người sở hữu.   Điều này được lý giải như sau: Những loại đá phong thủy – tức là đá bán quý được hình thành từ hàng trăm triệu năm từ trong tự nhiên. Chúng trải qua vô vàn biến động của vỏ trái đất từ thuở “khai thiên lập địa”. Với những áp lực, những dòng dung nham của núi lửa phun trào,… Quá trình hình thành nên những loại đá bán quý này vô cùng gian nan và phức tạp. Vì thế chúng có những vẻ đẹp hết sức độc đáo.   Vẻ đẹp của đá phong thủy tự nhiên chỉ cần gọt dũa, mài cắt thì sẽ thấy hết những nét đặc trưng. Không giống như những loại trang sức khác thì phải nung, khuôn ép. Vì thế chúng sẽ mang đến chủ nhân những năng lượng nguyên sơ và mạnh mẽ nhất. Những loại vòng tay, linh vật, mặt nhẫn, mặt dây chuyền đá phong thủy độc đáo. Sẽ mang đến sự bình an, may mắn, tài lộc, sức khỏe, tình duyên và tránh tà.

    chuỗi hạt bằng đá ngọc pakistan

     Những loại trang sức đá phong thủy bạn không nên bỏ qua:

    • Linh vật Tỳ hưu – mang phú quý, giữ tài lộc cho chủ nhân

    Tỳ hưu đeo đúng mệnh của gia chủ trong phong thủy mang phú quý. Bên cạnh đó chúng còn có công dụng của nó trong việc cải biến vận mệnh của con người.

       Dựa theo những mô tả trong các tài liệu cổ, Tỳ Hưu là đứa con thứ 9 của rồng. Linh vật này hội tụ được những nét tinh hoa từ các loài mãnh thú khác.

       Truyền thuyết kể lại rằng tỳ hưu sinh ra không có hậu môn, nên bị chết yểu. Ngọc Hoàng thấy thương tình phong cho làm linh vật chuyên phò trợ về tài lộc. Thức ăn của tỳ hưu là kim ngân, châu báu và chuyên thu hút tinh huyết của các loài yêu ma.

       Tỳ hưu thường được chế tác dưới hai hình thức. Tỳ hưu có một sừng và tỳ hưu cõng tiền trên lưng. Với tỳ hưu 1 sừng, khả năng phong thủy chính yếu của nó là giúp trừ tà ma quỷ quái. Với tỳ hưu cõng tiền có công dụng chính là mang lại vận may về tài lộc.

    • Linh vật Hồ ly – mang đến vận may và tình duyên thuận lợi

       Truyền thuyết kể rằng Hồ Ly là loài có thể tu hành luyện đạo, tu luyện một trăm năm mọc ra 3 đuôi gọi là “Yêu Hồ”.Tu luyện đến 1000 năm thì gọi là “Lục vĩ ma hồ” (6 đuôi), cảnh giới cao nhất là “Cửu vĩ thiên hồ” (9 đuôi). Mỗi đuôi là một mạng của Hồ Ly.

       Hồ ly được biết đến là có số mạng tương ứng với số đuôi của chúng, điều này chưa ai kiểm chứng, chỉ có thể hiểu càng nhiều đuôi  tức hồ ly càng có nhiều năm tu luyện, ma thuật càng cao, càng có khả năng sống cao hơn.

       Từ trước tới nay, mặt Hồ Ly luôn được xem là biểu tượng của tình duyên, mang lại sức mạnh thu hút về tình duyên cho chủ nhân. Hơn thế nữa, khi kết hợp với chất liệu là đá quý tự nhiên thì nó càng làm tăng thêm vận đào hoa cho chủ nhân đồng thời giúp cải thiện tâm trạng và tăng thêm vận may, tài lộc.

       Đeo Hồ Ly giúp làm gia tăng nhân duyên đối với người khác giới, tăng vận may về đường tình duyên, cải thiện tình cảm đôi lứa. Ngoài ra, nó còn giúp ngăn chặn những thứ tình cảm ngoài lề với người thứ ba, giảm nguy cơ ngoại tình, đổ vỡ trong tình cảm.

    • Trang sức đá mặt dây chuyền đeo cổ

       Hiện nay, có những sản phẩm hết sức độc đáo phù hợp làm mặt dây chuyền đeo cổ. Ví dụ như là đồng điếu băng ngọc thủy tảo, đồng điếu Ngọc Serpentine,… Những loại lu thống: ruby, cẩm thạch, ngọc bích với những màu sắc và kích thước khác nhau.

       Bạn có thể thỏa sức lựa chọn những sản phẩm này để làm những vật hộ thân, hộ mệnh cho mình. Hoặc bạn cũng có thể lựa chọn chúng để làm quà cho những người thân yêu của mình.

       Ví dụ một mặt phật di lặc sẽ mang đến sự bình an, an nhiên và thanh thản trong tâm hồn. Cuộc sống nếu mất đi sự bình an và một tâm trí bình lặng thì mọi thứ dường như đều trở nên vô nghĩa.

       Trang sức đá phong thủy hợp mệnh

    • Người mệnh Kim đeo đá phong thủy màu gì?

       Người mệnh Kim có màu tương sinh là vàng sậm, nâu đất và tương hợp là trắng, xám, ghi. Do vậy, để thay tài đổi vận, người mệnh Kim nên đeo các loại vòng đá phong thủy. Ví dụ như đá thạch anh tự nhiên có các màu vàng sậm, trắng,…  Vòng đá mắt hổ màu vàng nâu, tỳ hưu đá mắt hổ, hồ ly thạch anh trắng…

    • Người mệnh Mộc nên đeo trang sức đá màu gì?

       Người mệnh Mộc có màu tương sinh là đen, xanh nước biển và tương hợp là xanh lá cây, gỗ. Các loại đá phong thủy tự nhiên màu đen, xanh nước biển, xanh lá cây. Ví dụ như tỳ hưu đá thạch anh tóc đen, hồ ly cẩm thạch xanh, vòng tay Aquamarine,…

    • Người mệnh Thủy đeo đá màu gì tốt nhất?

       Người mệnh Thủy có màu tương sinh là trắng, xám, ghi và tương hợp là đen, xanh dương. Muốn cải biến vận mệnh, người mệnh Thủy hãy sử dụng các loại trang sức phong thủy. Vòng đá tự nhiên các màu trắng, đen, xanh nước biển, ghi tỳ hưu đá màu trắng, đen… Phải kể đến đá Aquamarine, moonstone, thạch anh tóc đen, xà cừ,…

    • Người mệnh Hỏa nên đeo đá màu gì?

       Người mệnh Hỏa có màu tương sinh là xanh lá cây, gỗ và tương hợp là đỏ, hồng, tím. Theo khoa học phong thủy, để đường tình duyên khởi sắc, có thể đeo vòng tay tỳ hưu đá thạch anh hồng. Để cầu bình an và may mắn có thể đeo các loại vòng đá tự nhiên màu xanh lá cây, đỏ, hồng, tím…

    • Người mệnh Thổ nên đeo đá màu gì?

       Người mệnh Thổ có màu tương sinh là đỏ, hồng tím và tương hợp là vàng sậm, nâu đất. Chọn trang sức đá phong thủy  tự nhiên như thạch anh, mã não, mắt hổ… mang các màu kể trên.

       Từ những chia sẻ trên, cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ Huỳnh Bá Minh hy vọng rằng các bạn sẽ có thêm những kiến thức về trang sức đá phong thủy. Chúc các bạn sẽ luôn vui vẻ, thành công trong cuộc sống.

    Xem thêm:
    https://dkmnhuynhbaminh.com/vat-pham-phong-thuy-bang-da/

  • Vật phẩm phong thủy bằng đá

    Vật phẩm phong thủy bằng đá

        Vật phẩm phong thủy là một trong những món đồ được rất nhiều người lựa chọn như một tấm bùa hộ thân. Nhiều người tin rằng những vật phẩm phong thủy sẽ giúp chủ nhân phát tài, phát lộc, tiền vào như nước, vạn sự may mắn mọi điều bình an,…. Do những niềm tin cũng như được nhiều người kiểm chứng về nguồn năng lượng và đặc tính hỗ trợ người dùng của những vật phẩm phong thủy mà ngày nay, rất nhiều người dùng đã lựa chọn những vật phẩm như một trong những món bảo vật vô giá, hỗ trợ tốt cho bản mệnh của người dùng.

       Để nhắc về nguồn gốc của phong thủy, chúng ta phải nhắc đến Trung Quốc, từ xưa đến nay, người Trung Hoa đã tin vào phong thủy, và những vật phẩm hỗ trợ và bảo vệ cho bản mệnh của người dùng. Từ đó mà quan niệm của người Trung Hoa đã ảnh hưởng đến người Việt Nam nói riêng và những người phương Đông nói chung. Theo quan niệm của người Trung Hoa, phong thủy là tổng hòa những điều kiện từ hướng nhà, hướng sao hạn, việc hợp mệnh, khắc mệnh,… để từ đó có thể sử dụng những đồ vật để giúp trấn trạch, xua đuổi tà khí nhằm cầu bình an, may mắn đến cho gia chủ và các thành viên trong gia đình.

       Trên thực tế hiện nay có rất nhiều vật liệu mà chúng ta có thể làm nên, chế tác thành đồ vật phong thủy như: kim loại, sừng động vật, tranh thêu tay, các sản phẩm từ điêu khắc gỗ, gốm, sứ, ngọc,…đều là những vật dụng khá phổ biến và được sử dụng chủ yếu để chế tác những đồ vật phong thủy.

       Đặc biệt, một trong những đồ vật phong thủy đã và đang được nhiều người lựa chọn bởi đặc tính, bởi công dụng của chúng đối với người dùng chính là đá phong thủy. Đá phong thủy không giống như những viên đá thường. Chúng là những viên đá có giá trị vật chất và nguồn năng lượng cao. Chủ yếu là những viên đá màu, thường hình thành bằng các khối tinh thể đá, trải qua hàng triệu năm dưới lòng đất.

       Về vẻ đẹp thì đá phong thủy được coi là một trong những món đồ bắt mắt, có hình dáng, cấu tạo đẹp, thu hút được rất nhiều người dùng. Nhưng xét về nguồn năng lượng?

       Để nhắc đến nguồn năng lượng của những viên đá phong thủy: đá thạch anh, đá hổ phách, đá mắt hổ,…. Thì không một loại vật phẩm phong thủy nào có thể sánh được. Không những giúp người dùng xua đuổi tà khí, trấn an gia trạch mà những viên đá phong thủy nào còn có tác dụng hỗ trợ cho bản mệnh của người dùng, giúp chiêu tài hút lộc, gặp nhiều may mắn và thuận lợi trong công việc cũng như trong cuộc sống.

       Đặc biệt, việc sử dụng những viên đá phong thủy còn có khả năng giúp bảo vệ môi trường sống của con người. Nhưng tại sao lại nói vậy?

       Trên thực tế, ngoài những vật phẩm bằng đá tự nhiên từ những vật phẩm từ gỗ cũng được rất nhiều người ưa chuộng sử dụng. Tuy nhiên để làm được đồ vật phong thủy thì đó phải là gỗ sưa, gỗ sưa đỏ,…. Đây đều là những loại gỗ quý hiếm và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nếu bị khai thác bừa bãi. Do vậy mà xét về công dụng thì đá phong thủy không những tốt về năng lượng và còn giúp năng ngừa tình trạng chặt phá rừng.

    Cóc tài lộc đá ngọc Pakistan

       Đặc biệt, những viên đá phong thủy còn có giá thành rẻ hơn mà lại có vẻ đẹp, giá trị thẩm mỹ cao và hỗ trợ tốt cho người dùng hơn những vật phẩm từ gỗ quý hiếm.

    Xem thêm: https://dkmnhuynhbaminh.com/cach-chon-trang-suc-bang-da-phu-hop-voi-cung-menh/

  • Trang trí nội ngoại thất bằng đồ đá mỹ nghệ

    Trang trí nội ngoại thất bằng đồ đá mỹ nghệ

       Ngày nay, với sự phổ biến của phong cách hiện đại, của cuộc sống gia đình, đồ đá nội thất hiện đang được sự dụng rất rộng rãi. Có nhiều khách sạn, vila, gia đình… “vật dụng nội thất bằng đá” là vật dụng không thể thiếu bởi sự sang trọng, thẩm mỹ và gần gũi với thiên nhiên. Có rất nhiều loại sản phẩm đồ nội thất với các chất liệu đá khác nhau như đá cẩm thạch , đá ngọc bích, đá lửa , đá granite, đá thạch anh. Vì thế mà giá của mỗi sản cũng sẽ có sự khác biệt rất lớn.

     

    Chất lượng sản phẩm

        Được làm từ đá tự nhiên nguyên khối nên các sản phẩm đồ nội thất bằng đá có màu sắc tự nhiên, có độ bền cao, hoa văn không bị rạn nứt, không bị phai màu. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều đồ nội thất giá rẻ, tuy nhiên để lựa chọn cho mình đơn vị uy tín chất lượng thì không phải ai cũng nắm rõ.

        Với tay nghề của đội ngủ nghệ nhân có kinh nghiệm lâu năm của cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ Huỳnh Bá Minh, niềm tin mang lại sự bình yên và những điều tốt đẹp cho khách hàng, các nghệ nhân luôn dành sự tâm huyết để sản phẩm đạt chất lượng và độ tinh xảo cao nhất. Cam kết các sản phẩm nội thất bằng đá mỹ nghệ được làm từ 100% chất liệu đá tự nhiên nguyên khối nên có độ bền vĩnh cửu cùng thời gian, họa tiết được chạm trổ tinh xảo, kích thước được tính toán theo yêu cầu của khách hàng.

    Xem thêm: https://dkmnhuynhbaminh.com/vat-pham-phong-thuy-bang-da/

  • Phân biệt Thần Kim Cang và Hộ Pháp

    Phân biệt Thần Kim Cang và Hộ Pháp

    Vị thần Kim Cang và vị thần Hộ Pháp rất khác nhau, việc làm của mỗi vị như sau:

        A- Nhiệm vụ của vị thần Kim Cang là hộ trì chánh pháp Thanh tịnh thiền, tức Thiền tông, duy nhất của Ngài là có vậy thôi.

        Đức Phật có dạy rõ, hồi Như Lai còn tại thế, vị thần Kim Cang có xuất hiện 3 lần:

       – Lần thứ nhất: Đầu tiên, Đức Phật dạy pháp môn “Bụi trần” để độ 5 anh em ông Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu.

       – Lần thứ hai: Đức Phật tuyên dạy pháp môn Thanh tịnh thiền.

      – Lần thứ ba: Đức Phật truyền “Bí mật Thiền tông” cho Ngài Ma Ha Ca Diếp để làm Tổ sư thiền Thanh tịnh đời thứ nhất.

        Vị thần Kim Cang phải thờ trên cao ở các nơi:

        – Sự tích Đức Phật độ 5 anh em ông Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu.

        – Sự tích Đức Phật tuyên dạy pháp môn Thanh tịnh thiền.

        – Sự tích Đức Phật truyền “Bí mật Thiền tông” cho Ngài Ma Ha Ca Diếp.

        – Chùa dạy pháp môn Thiền tông.

        Đức Phật có lưu ý phần chùa này như sau:

        Cổng chùa phải ghi là “Thiền tông” , còn Thiền viện không được phép ghi chữ Thiền tông này. Vì sao vậy? Vì Thiền viện là nơi dụng công tu những pháp môn còn nằm trong luân chuyển của vật lý.

        Nơi chánh điện phải ghi 2 câu như sau:

        – Chánh điện Thiền tông.

        – Tu theo pháp môn Thiền tông cốt để thành Phật.

        Nơi thờ Tổ phải ghi như sau:

        – Điện Tổ Thiền tông.

        – Vào các đời sau, vị Tổ nào nổi bậc nhất là thờ vị Tổ ấy.

        B- Nhiệm vụ của vị thần Hộ Pháp là hộ trì những pháp tu mà Đức Phật dạy sử dụng tâm vật lý của Ngài để dạy, như Pháp môn: Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, niệm Phật và niệm Chú.

         Những vị hộ pháp trong Phật giáo:

       – Vi Đà Hộ Pháp còn gọi là Vi Đà thiên, vốn một vị thần của Bà-la-môn giáo. Vi Đà nguyên là vị thần chiến đấu, có sáu đầu mười hai tay, tay cầm cung tên, cưỡi trên lưng khổng tước. Phật giáo Đại thừa hấp thu vị thần này và biến thành vị thần ủng hộ chốn già-lam. Tương truyền khi Phật nhập Niết-bàn, có một con quỷ đến cướp mất một cái răng của Phật. Vi Đà cấp tốc đuổi theo lấy về. Trong chùa Việt, vị thần này được tạc với thân mang áo giáp, 

    chắp tay, cầm bảo kiếm.

       – Tiêu Diện Đại sĩ: hay còn gọi là Tiêu Diện Đại Quỷ vương, là vua của loài ngạ quỷ. Có khuôn mặt đỏ, lửa bốc cháy, là vị thần nổi tiếng của Phật giáo. Và người ta cũng cho rằng vị thần này vốn là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ-tát. Hóa thân này với ý nghĩa là dùng hình tượng của cái ác để chế ngự cái ác. Các thế lực xấu khi gặp ngài thì hoảng sợ mà chạy ra hướng có ánh sáng, mà nơi có ánh sáng là sẽ được Phật cứu độ và cảm hóa. Trong dân gian, vào dịp Tết Trung nguyên người ta thường đến chùa bái vị này để cầu mong cho vong nhân của gia đình được trở về thọ thực cùng gia quyến.

         Vị trí thờ thần Hộ Pháp:

    Phải thờ trước cửa chùa hoặc trước cửa của các Thiền viện.

    (Trích từ quyển “Những câu hỏi về Thiền tông 2” – tác giả Nguyễn Nhân)

    Xem thêm: https://dkmnhuynhbaminh.com/la-han/

  • Sơ lượt về 18 vị La Hán

    Sơ lượt về 18 vị La Hán

    Sơ lượt và ý nghĩa 18 Vị La Hán trong Phật giáo

       A la hán chỉ là phiên âm từ tiếng Phạn Arahat. Chữ Arahat hay A la hán có 3 nghĩa: Sát tặc, Vô sanh và Ứng cúng.

        a) Sát tặc là giết sạch hết giặc phiền não trong tâm. Bọn giặc phiền não chúng nó hung tợn dữ dằn lắm. Những thứ phiền não gốc ngọn gì, các Ngài cũng đều giết sạch hết, nên gọi là sát tặc.

        b) Vô sanh đồng nghĩa với Niết bàn. Nghĩa là các Ngài đã đạt được một trạng thái tâm lý yên tịnh không còn sanh diệt nữa. Nói rõ, là các Ngài không còn sanh tử luân hồi.

         c) Ứng cúng là các Ngài thật xứng đáng cho trời người cúng dường. A la Hán có 3 nghĩa như thế.

    1. La Hán Ba Tiêu
    2. La Hán Bố Đại
    3. La Hán Cử Bát
    4. La Hán Hàng Long
    5. La Hán Khai Tâm
    6. La Hán Kháng Môn
    7. La Hán Khánh Hỷ
    8. La Hán Khoái Nhĩ
    9. La Hán Kỵ Tượng
    10. La Hán Phục Hổ
    11. La Hán Quá Giang
    12. La Hán Thác Tháp
    13. La Hán Thám Thủ
    14. La Hán Tiếu Sư
    15. La Hán Tĩnh Tọa
    16. La Hán Tọa Lộc
    17. La Hán Trầm Tư
    18. La Hán Trường Mi

        1. La Hán Ba Tiêu

       Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯 (Vanavāsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dội và bà hạ sanh Ngài trong lúc ấy. Sau khi xuất gia với Phật, Ngài thích tu tập trong núi rừng, thường đứng dưới các cây chuối nên còn được gọi là La-hán Ba Tiêu. Có lần, đức Phật hàng phục con yêu long trong một cái đầm sâu. Cảm phục ân đức của Phật, yêu long xin Ngài lưu lại chỗ của mình để được gần gũi cúng dường. Phật dạy Ngài không thể ở một nơi lâu, nên cử năm vị Đại A-la-hán đến, đó là các vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Nhân-kiệt-đà, Tô-tần-đà và Phạt-na-bà-tư. Khi tôn giả Phạt-na-bà-tư đến tiếp nhận lễ vật cúng dường, Ngài thường thích tọa thiền trên phiến đá lớn bên cạnh đầm, khi thì ngồi suốt tuần, lúc ngồi cả nửa tháng.
       Theo lời phó chúc của đức Phật, Tôn giả lưu tâm hóa độ vua Ca-nị-sắc-ca. Nhân dịp nhà vua đi săn, Tôn giả hóa làm con thỏ trắng dẫn đường cho vua đến gặp một mục đồng đang lấy bùn đất nặn tháp Phật. Mục đồng nói rằng Phật thọ ký 400 năm sau vua Ca-ni-sắc-ca sẽ xây tháp thờ Phật tại đây. Mục đồng ấy cũng chính là Phạt-na-bà-tư hóa hiện. Từ đó, vua trở nên bậc đại quân vương hoằng dương Phật pháp, xây chùa tháp tự viện, ủng hộ cúng dường Tăng chúng, tổ chức kiết tập kinh điển Phật giáo lần thứ tư tại thủ đô Ca-thấp-di-la. Tất cả những thành tựu này đều nhờ thâm ân giáo hóa của tôn giả Phạt-na-bà-tư.
       Theo Pháp Trụ Ký, tôn giả Phạt-na-bà-tư là vị La-hán thứ mười bốn, ngài và 1.400 vị La-hán thường ở trong núi Khả Trụ.

        2. La Hán Bố Đại
        Tên của Ngài là Nhân-yết-đà 因羯陀 Nhân-kiệt-đà (Angada). Theo truyền thuyết Ngài là người bắt rắn ở Ấn Độ, xứ này nhiều rắn độc hay cắn chết người, Ngài bắt chúng, bẻ hết những răng nanh độc rồi phóng thích lên núi. Hành động ấy phát xuất bởi lòng từ cao độ, nên Ngài được xem như biểu trưng của từ bi. Sau khi đắc đạo, Ngài thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn, cũng trùng hợp như Hòa thượng Bố Đại ở Trung Hoa.
        Nhân có một người nước Ô-trượng-na muốn tạc tượng Bồ-tát Di-lặc, nhưng chưa được thấy diện mạo Bồ-tát nên không dám làm. Ông lập hương án trong vườn hoa chí thành khấn nguyện, cung thỉnh một vị Hiền Thánh đến để giúp ông. Khấn xong thì có một vị La-hán xuất hiện xưng tên là Nhân-yết-đà, đến đưa ông lên cung trời Đâu-suất để gặp Bồ-tát Di-lặc. Tôn giả đã đưa người này lên cung trời trước sau cả thảy ba lần để chiêm ngưỡng chân tướng trang nghiêm của Bồ-tát. Tượng Bồ-tát tạo xong được bảo tồn tại thủ đô nước Ô-trượng-na, đó là nhờ công ơn của Tôn giả.
        La-hán là bậc bất sanh bất diệt, đến đi tự tại, các Ngài du hóa nhân gian dưới mọi hình thức. La-hán Bố Đại có hình tướng mập mạp, bụng to, túi vải lớn bên mình như là hiện thân của Bồ-tát Di-lặc, trong câu chuyện trên đã có ít nhiều liên hệ.
       Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ mười ba, thường cùng 1.300 vị A-la-hán trụ trong núi Quảng Hiếp.

        3. La Hán Cử Bát

       Tên của Ngài là Ca-nặc-ca-bạt-ly-đọa-xà 迦諾迦跋釐墮蛇 (Kanakabharadvāja). Ngài là vị Đại đệ tử được đức Phật giao phó giáo hóa vùng Đông Thắng Thần Châu.Quốc vương nước Tăng-già-la ở Nam Hải không tin Phật pháp, Tôn giả Ca-nặc-ca tìm cách hóa độ. Một sớm mai, khi đang cầm gương soi mặt, quốc vương giật mình kinh sợ vì trong gương không có mặt mình mà có hình dáng vị đại sĩ Bạch Y. Đây là do phép thần biến của Tôn giả. Theo lời khuyên của quần thần, nhà vua cho tạc tượng Bồ-tát Quan Thế Âm để thờ phụng và từ đó hết lòng tin Phật.

        Ngài Huyền Trang khi sang Ấn Độ, trú tại chùa Na-lan-đà nghe kể câu chuyện sau: Sau khi Phật Niết-bàn vài trăm năm, quốc vương nước Ma-kiệt-đà làm lễ lạc thành ngôi chùa Đại Phật, thỉnh mấy ngàn vị Hòa thượng đến cúng dường. Khi mọi người bắt đầu thọ trai, bỗng nhiên có hai vị Hòa thượng từ không trung bay xuống. Cả hội chúng kinh ngạc, vua hỏi lai lịch thì một vị xưng là Tân-đầu-lô ở Tây-cù-da-ni châu, một vị xưng là Ca-nặc-ca ở Đông Thắng Thần Châu. Vua vui mừng thỉnh hai Tôn giả chứng minh trai phạn. Thọ trai xong, hai vị cười nói: Này các vị, 16 La-hán chúng tôi sẽ mãi mãi lưu lại thế gian, cùng tu tập với tất cả Phật tử chí thành đời sau. Tôn giả Ca-nặc-ca thường mang một cái bát sắt bên mình khi du hành khất thực, nên được gọi là La-hán Cử Bát.
        Theo Pháp Trụ Ký ngài là vị La-hán thứ ba, thường cùng 600 vị A-la-hán trú tại Đông Thắng Thần Châu.

        4. La Hán Hàng Long

        Ngài tên là Nan-đề-mật-đa-la 難提密多 (Nandimitra), Trung Hoa dịch Khánh Hữu, ra đời sau Phật diệt độ 800 năm, cư trú tại nước Sư Tử.

        Ngài là vị Đại La-hán thần thông quảng đại, đạo hạnh trang nghiêm. Tương truyền có một lần cả đảo Sư Tử bị Long Vương dâng nước nhận chìm, Tôn giả ra tay hàng phục rồng nọ và được tặng hiệu La-hán Hàng Long. Khi Ngài sắp thị tịch, mọi người buồn thương lo sợ vì thế gian sẽ không còn bậc La-hán. Ngài cho biết có 16 vị La-hán vâng lệnh Phật lưu trụ cõi Ta-bà để ủng hộ Phật pháp. Lời dạy của Ngài được ghi chép lại thành bộ “Pháp Trụ Ký”. Nói “Pháp Trụ Ký” xong, tôn giả Khánh Hữu bay lên không trung hóa hiện vô số thần biến, rồi dùng chơn hỏa tam-muội thiêu thân. Xá-lợi ngũ sắc rơi xuống như mưa, mọi người tranh nhau lượm mang về tôn thờ cúng dường.
        Tuy đã thiêu thân, nhưng Tôn giả không rời nước Sư Tử, Ngài bay về động đá trên núi để tọa thiền. Thời gian thoáng chốc đã hơn 400 năm, khi Tôn giả xuất định Ngài ôm bát xuống núi khất thực thì thấy phong cảnh đã đổi khác. Ngài nhẫm tính lại và khám phá ra mình đã tọa thiền hơn 400 năm bèn bật cười ha hả. Sau đó Ngài thường xuất hiện khắp nơi, khi thì trì bát, lúc thì giảng kinh… Mọi người vẫn còn tin rằng Ngài vĩnh viễn không rời thế gian mà luôn luôn cùng 16 vị La-hán kia tiếp tục hoằng hóa.
    * Dị bản: Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la là vị La-hán thứ 17, do mọi người tưởng nhớ công ơn ngài nói ra Pháp Trụ Ký.

        5. La Hán Khai Tâm

        Hình tượng vạch áo bày ngực để hiển lộ tâm Phật. Ngài tên là Thú-bác-ca 戍博迦 (Jivaka). Thú-bác-ca vốn là một Bà-la-môn nổi danh, nghe nói thân Phật cao một trượng sáu, Thú-bác-ca không tin nên chặt một cây trúc dài đúng một trượng sáu để đích thân đo Phật. Lạ thay, dù đo bất cứ cách nào, thân Phật vẫn cao hơn một chút. Thú-bác-ca tìm một cây thang dài rồi leo lên thang đo lại, kết quả cũng vậy. Đo đến mười mấy lần, không còn cây thang nào dài hơn mà thân Phật vẫn cao hơn. Lúc này ông thiệt tình khâm phục và xin quy y làm đệ tử.

        Sau khi xuất gia, trải qua bảy năm khổ hạnh, Ngài chứng quả A-la-hán. Vì muốn kỷ niệm nhân duyên đo Phật mà xuất gia ngộ đạo, Ngài lấy cây sào lúc trước, đi đến chỗ cũ nói: Nếu Phật pháp là chân lý ngàn đời thì xin cây sào này mọc lại và sinh trưởng ở đây. Nói xong, Ngài cắm cây sào xuống đất. Cây sào bỗng nẩy chồi ra lá. Thời gian sau từ chỗ đó mọc lên một rừng trúc tốt tươi lan rộng cả vùng, người ta gọi nơi ấy là Trượng Lâm. Quần chúng Phật tử kéo đến chiêm bái chứng tích mầu nhiệm của cây gậy đo Phật. Nơi đây rừng núi khô cằn hoang dã, thiếu nước uống nghiêm trọng, tôn giả Thú-bác-ca liền vận thần thông biến ra hai suối nước một nóng, một lạnh để mọi người tha hồ sử dụng. Hai suối này nằm cách mười dặm về phía Tây Nam của Trượng Lâm. Dân chúng vùng này mãi nhớ ơn đức của Tôn giả.
       Theo Pháp Trụ Ký, ngài Thú-bác-ca là vị La-hán thứ  chín, thường cùng 900 vị La-hán trụ trong núi Hương Túy.

        6. La Hán Kháng Môn

        Tên của Ngài là Chú-trà-bán-thác-ca, hay Châu-lợi-bàn-đặc 周利槃特 (Cullapatka). Truyền thuyết Phật giáo nhắc đến Ngài như một tấm gương cần cù nhẫn nại. Vì không thông minh như anh nên khi xuất gia Ngài không tiếp thu được Phật pháp, kể cả xếp chân ngồi thiền cũng không xong. Về sau được sự chỉ dạy lân mẫn của Thế Tôn, Ngài thực hành pháp môn quét rác với cây chổi trên tay. Nhờ sự kiên trì, dốc tâm thực hành lời dạy của Phật, quét sạch mọi cấu uế bên trong lẫn bên ngoài, Ngài đã chứng Thánh quả.

        Một hôm đại thần Kỳ-bà thành Vương Xá thỉnh Phật và các vị A-la-hán đến nhà thọ trai. Tôn giả Bán-thác-ca không biết em mình đã chứng quả nên không phát thẻ tham dự. Đến khi chuẩn bị thọ trai, Phật bảo Bán-thác-ca về tinh xá xem có sót người nào. Tôn giả về Trúc Lâm thì thấy cả ngàn vị Hòa thượng đang tọa thiền rải rác trong vườn. Ngạc nhiên và dùng thiên nhãn quán sát, mới vỡ lẽ ra đó là trò đùa của em mình, Tôn giả mừng rỡ xúc động, tán thán công phu của Châu-lợi-bàn-đặc.
        Theo truyền thuyết, khi đi khất thực Tôn giả gõ cửa một nhà nọ và làm ngã cánh cửa cũ hư. Điều này cũng gây bối rối! Về sau, Phật trao cho Tôn giả một cây gậy có treo những chiếc chuông nhỏ để khỏi phải gõ cửa nhà người. Nếu chủ nhân muốn bố thí thì sẽ bước ra khi nghe tiếng chuông rung. Cây gậy gõ cửa trở thành biểu tượng của Tôn giả, và là hình ảnh quen thuộc trong sinh hoạt Phật giáo.
    Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả là vị La-hán thứ mười sáu, cùng với 1.600 vị A-la-hán thường trú tại núi Trì Trục.

        7. La Hán Khánh Hỷ

        Ngài tên là Ca-nặc-ca-phạt-tha 迦諾 迦伐磋 (Kanakavatsa), còn gọi là Yết-nặc-ca-phược-sa. Đức Phật thường khen Ngài là vị La-hán phân biệt thị phi rõ ràng nhất. Khi chưa xuất gia Ngài là người rất tuân thủ khuôn phép, giữ gìn từ lời nói đến hành động, một ý nghĩ xấu cũng không cho phát khởi. Sau khi xuất gia, Ngài càng nỗ lực tinh tấn tu tập, nhờ thiện căn sâu dày Ngài chứng quả A-la-hán rất mau.   

       Ngài thường đi du hóa khắp nơi với gương mặt tươi vui và dùng biện tài thuyết pháp để chiêu phục chúng sanh. Thấy mọi người thường vô ý tạo nhiều nghiệp ác hằng ngày, tương lai bị quả khổ địa ngục nên khi thuyết pháp Ngài thường xiển minh giáo lý nhân quả thiện ác, giúp chúng sanh phân biệt rõ ràng để sửa đổi. Một lần nọ đi ngang qua thôn trang, thấây một gia đình đang giết vô số trâu dê gà vịt để làm lễ mừng thọ. Ngài ghé lại, thuyết giảng một hồi về phương pháp chúc thọ, về cách mừng sinh nhật để được sống lâu hạnh phúc, đền đáp ơn sinh thành. Ngài dạy rằng, ngày sinh nhật là ngày khó khăn khổ nhọc của mẹ, nên phận làm con không được ăn uống vui chơi, trái lại nên tịnh tâm suy niệm ân đức cha mẹ, quyết chí tu tập thành tựu đạo nghiệp.
    Bằng cách giảng dạy chân thật, Tôn giả suốt đời như ngọn hải đăng đem ánh sáng Phật pháp soi rọi nhân sinh.
    Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ hai, thường cùng 500 vị La-hán trụ tại nước Ca-thấp-di-la (Kashmir).

        8. La Hán Khoái Nhĩ

        Ngài tên là Na-già-tê-na 那伽犀那 (Nāgasena) hay còn gọi là Na Tiên. Nāgasena theo tiếng Phạn nghĩa là đội quân của rồng và tượng trưng sức mạnh siêu nhiên. Ngài Na Tiên sinh trưởng ở miền Bắc Ấn là bậc La-hán nổi tiếng về tài biện luận. Đương thời của Ngài gặp lúc vua Di-lan-đà cai trị, nhà vua là người Hy Lạp vốn chuộng biện thuyết. Nghe tiếng tôn giả Na Tiên là bậc bác học đa văn nên nhà vua đích thân phỏng vấn. Cuộc vấn đạo giữa bậc đế vương và bậc Tỳ-kheo thoát tục đã để lại cho chúng ta một tác phẩm bất hủ “Kinh Na Tiên Tỳ Kheo”, mà cả hai tạng Nam truyền và Bắc truyền đều lưu giữ đến nay. Nhờ sự chỉ dạy của tôn giả Na Tiên mà cuối cùng vua Di-lan-đà trở thành vị quốc vương anh minh hết lòng ủng hộ Phật pháp.

        Có chỗ nói ngài Na Tiên chuyên tu về nhĩ căn, tranh tượng của Ngài mô tả vị La-hán đang ngoáy tai một cách thú vị. Mọi âm thanh vào tai đều giúp cho tánh nghe hiển lộ, rất thường trụ và rất lợi ích. Từ nhĩ căn viên thông phát triển thiệt căn viên thông, trở lại dùng âm thanh thuyết pháp đưa người vào đạo, đó là ý nghĩa hình tượng của tôn giả Na Tiên.
         Theo Pháp Trụ Ký, Ngài cũng là vị La-hán thứ mười hai, thường cùng 1.200 vị A-la-hán trụ trong núi Bán-độ-ba.

        9. La Hán Kỵ Tượng

        Tên của Ngài là Ca-lý-ca 迦哩迦 (Kalica), trước khi xuất gia làm nghề huấn luyện voi. Khi Tôn giả chứng quả A-la-hán, đức Phật bảo Ngài nên ở tại quê hương mình (Tích Lan) để ủng hộ Phật pháp.

        Phật đến Tích Lan thuyết kinh Lăng Già, Tôn giả cũng là một trong số đệ tử đi theo. Đức Phật sắp rời đảo, vua Dạ-xoa cung thỉnh đức Phật để lại một kỷ niệm tại đảo để làm niềm tin cho hậu thế. Thế Tôn ấn dấu chân của mình trên một ngọn núi, nơi đó trở thành Phật Túc Sơn, và bảo tôn giả Ca-lý-ca gìn giữ thánh tích này. Phật Túc Sơn nổi tiếng khắp nơi, mọi người đua nhau chiêm lễ. Trải qua thời gian nó bị chìm vào quên lãng, con đường dẫn lên núi bị cỏ hoang phủ kín. Trong dịp vua Tích Lan là Đạt-mã-ni-a-ba-á bị kẻ địch rượt đuổi nên chạy trốn vào hang núi, Tôn giả hóa thành một con nai hoa rất đẹp dụ dẫn nhà vua lên núi để hiển lộ lại dấu chân Phật. Sau nhiều triều đại kế tiếp, Phật Túc Sơn lại không người viếng thăm. Tôn giả một phen nữa hóa thành thiếu nữ bẻ trộm hoa trong vườn của vua. Khi bị bắt, thiếu nữ chỉ tay lên ngọn núi phủ sương mờ, bảo rằng mình hái hoa cúng Phật ở trên ấy. Phật Túc Sơn từ đó khắc sâu hình ảnh trong lòng người, mỗi năm đến ngày 15 tháng 3 âm lịch, quần chúng kéo nhau đi lễ bái thánh tích rầm rộ không ngớt.
        Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Ca-lý-ca là vị La-hán thứ bảy, cùng với 1.000 vị A-la-hán luôn thường trụ tại Tăng Già Trà Châu (Tích Lan).

        10. La Hán Phục Hổ

        Tên của Ngài là Đạt-ma-đa-la 達磨多羅 (Dharmatrāta), người ở núi Hạ Lan tỉnh Cam Túc. Thuở nhỏ Đạt-ma-đa-la đến chùa, rất thích chiêm ngưỡng hình tượng 16 vị La-hán thờ trong điện. Sư phụ cũng hay kể cho cậu bé nghe những chuyện thần kỳ của các vị La-hán, dần dần trong tánh linh trẻ thơ in đậm hình ảnh các Ngài, thậm chí khi ngủ cũng mơ thấy.

        Một hôm trong khi đang chiêm lễ, Đạt-ma-đa-la bỗng thấy các hình tượng La-hán cử động, vị thì quơ tay, vị thì chớp mắt như người thật. Ngỡ mình hoa mắt, Đạt-ma-đa-la định thần nhìn kỹ lại, lần này thấy rõ hơn, một số vị còn cười tươi tắn. Từ đó Đạt-ma-đa-la càng thêm siêng năng lễ kỉnh, và ngày nào cũng được chứng kiến các kỳ tích cảm ứng. Đạt-ma-đa-la theo hỏi một vị La-hán cách tu tập để được trở thành La-hán. Ngài chỉ dạy cậu nên siêng năng tọa thiền, xem kinh, làm các việc thiện. Đạt-ma-đa-la phát tâm tu hành, thực hiện lời dạy của bậc La-hán nên chẳng bao lâu chứng quả.
        Thành một A-la-hán thần thông tự tại, Ngài thường du hóa trong nhân gian, giảng kinh thuyết pháp, gặp tai nạn liền ra tay cứu giúp. Tôn giả ba lần thu phục một con hổ dữ đem nó về núi cho tu, đi đâu thì dẫn theo. Bên cạnh hình tượng Ngài người ta vẽ thêm một con hổ, Ngài thành danh La-hán Phục Hổ.
        La-hán Hàng Long và La-hán Phục Hổ là hai vị được đưa thêm vào danh sách Thập Lục La-hán, để trở thành một truyền thuyết vĩnh viễn được tôn thờ.

        11. La Hán Quá Giang

        Tên của Ngài là Bạt-đà-la 跋陀羅 (Bhadra). Bạt-đà-la còn gọi là Hiền, vì mẹ Ngài hạ sanh Ngài dưới cây Bạt-đà, tức là cây Hiền.

        Theo truyền thuyết, Tôn giả rất thích tắm rửa, mỗi ngày tắm từ một đến mười lần, và như vậy rất mất thời gian đồng thời trễ nải công việc. Chẳng hạn khi mọi người thọ trai, Ngài lại đi tắm, khi lên ăn thì cơm rau đã hết. Nhiều buổi tối, Ngài lén đi tắm khi mọi người đang tọa thiền. Thậm chí ngủ nửa đêm cũng thức dậy đi tắm, có khi một đêm tắm năm, sáu lần! Việc này đến tai đức Phật. Thế Tôn kêu Tôn giả đến bên, chỉ dạy cách tắm rửa thiết thực, nghĩa là ngoài việc tẩy rửa thân thể còn phải tẩy rửa cấu uế trong tâm, gột sạch các tham sân phiền não để cả thân tâm đều thanh tịnh.
        Tiếp nhận lời Phật dạy, Tôn giả hành trì theo ý nghĩa đích thực của việc tắm rửa, siêng năng gột rửa tâm nên chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Từ đó tắm rửa là một pháp tu hữu dụng thiết thực mà Tôn giả thường khuyên dạy mọi người. Các tự viện Trung Hoa thường thờ hình tượng Ngài trong nhà tắm để nhắc nhở ý nghĩa phản tỉnh tư duy.
        Tôn giả cũng thường dong thuyền đi hoằng hóa các quần đảo của miền đông Ấn Độ như Java, Jakarta… nên được mang tên La-hán Quá Giang.
        Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ sáu, thường cùng 900 vị A-la-hán trụ tại Đam-một-la-châu.

        12. La Hán Thác Tháp

    Tên của Ngài là Tô-tần-đà 蘇頻陀 (Subinda). Thường ngày, Ngài tu tập rất tinh nghiêm, giúp người nhiệt tình nhưng ít thích nói chuyện. Tôn giả ít khi đi theo đức Phật ra ngoài, Ngài chỉ ở yên nơi tinh xá đọc sách hoặc quét sân. Có người phê bình cách nói chuyện của Ngài không hay, đức Phật biết được an ủi: “Này Tô-tần-đà! Nói chuyện hay hoặc dở không liên quan gì đến vấn đề giác ngộ. Mọi người chỉ cần y theo lời ta dạy mà thực hành, dù không nói câu nào cũng thành tựu sự giải thoát”.

        Đúng thật là Tôn giả hiếm khi lãng phí thời gian vào việc tán gẫu, chỉ dành trọn thời gian tọa thiền nên chứng quả A-la-hán rất sớm.
        Đương thời vua nước Án-đạt-la muốn xây dựng một tinh xá u tịch tại núi Hắc Phong, nhưng tìm không ra những tảng đá lớn. Tôn giả chỉ cần vận thần thông trong một đêm, mang đến vô số đá rất lớn từ bên kia sông Hằng. Quốc vương lại muốn tạo một pho tượng thật lớn bằng vàng tôn trí trong tinh xá nhưng kho lẫm quốc gia không đủ cung ứng. Tôn giả chỉ cần nhỏ vài giọt nước xuống mấy phiến đá, chúng đều biến thành vàng. Quốc vương vui mừng gọi thợ giỏi nhất, đến lấy vàng đúc tượng để nhân dân chiêm lễ.
    Năm trăm năm sau Phật diệt độ, Tôn giả nhiều lần hiện thân tại nước Kiện-đà-la để giáo hóa. Hình tượng Ngài được tạo với bảo tháp thu nhỏ trên tay, tháp là nơi thờ xá-lợi Phật, giữ tháp bên mình là giữ mạng mạch Phật pháp, vì thế Ngài được gọi là La-hán Nâng Tháp.
        Theo Pháp Trụ Ký, ngài Tô-tần-đà là vị La-hán thứ tư, thường cùng 700 vị A-la-hán phần nhiều trụ ở Bắc Câu Lô Châu.

        13. La Hán Thám Thủ

        Hình tượng đưa hai tay lên rất sảng khoái của một vị La-hán sau cơn thiền định. Ngài tên là Bán-thác-ca? 半託迦 (Panthaka), Trung Hoa dịch: Đại lộ biên sanh. Ngài là anh của Châu-lợi-bàn-đặc. Tương truyền hai anh em đều sanh ở bên đường, khi mẫu thân trở về quê ngoại sinh nở theo phong tục Ấn Độ.

        Bán-thác-ca lớn lên là một thanh niên trí thức, nhân mỗi khi theo ông ngoại đi nghe Phật thuyết pháp, bèn có ý định xuất gia. Được gia đình chấp thuận, Ngài gia nhập Tăng đoàn, trở thành một vị Tỳ-kheo tinh tấn dõng mãnh, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Nhớ đến em mình là Châu-lợi-bàn-đặc, Ngài trở về hướng dẫn em xuất gia. Rất tiếc, thời gian đầu thấy em mình quá dốt nên Ngài khuyên em hoàn tục. Đó cũng là vì tình thương và trách nhiệm nên Tôn giả đối xử như thế, hoàn toàn không phải giận ghét.
        Về sau, khi Châu-lợi-bàn-đặc chứng Thánh quả, chính Tôn giả Bán-thác-ca là người mừng hơn ai hết. Cả hai anh em dẫn nhau về pháp đường, đại chúng cảm động tán thán ngợi khen. Đức Phật dạy: “Này Bán-thác-ca và Châu-lợi-bàn-đặc, khó ai được như hai anh em các ông, vừa cùng xuất gia học đạo, vừa tận trừ phiền não lậu hoặc, chứng quả A-la-hán. Sau này hai ông nên đồng tâm hiệp lực lưu lại nhân gian để hoằng dương Phật pháp”. Hai tôn giả vâng lời Phật nên thường tùy hỷ hóa độ chúng sanh.
       Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Bán-thác-ca là vị La-hán thứ mười, Ngài thường cùng 1.100 vị A-la-hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù-châu.

        14. La Hán Tiếu Sư

        Tên của Ngài là Phạt-xà-la-phất-đa-la 伐闍羅弗多羅 (Vajraputra). Tương truyền khi còn ở thế tục, Ngài làm nghề thợ săn, thể lực rất tráng kiện, một tay có thể nâng một con voi, hoặc nắm một con sư tử ném xa hơn 10 mét. Mỗi khi muông thú chạm mặt Ngài, chúng đều hoảng sợ lánh xa. Sau khi xuất gia, Ngài nỗ lực tu tập, chứng quả La-hán. Lại có một con sư tử thường quấn quýt bên Ngài, do đó Ngài được biệt hiệu La-hán Đùa Sư Tử.

        Về phía Bắc tinh xá Trúc Lâm có ao Ca-lan-đà, nước trong mát có thể trị lành được nhiều bịnh, đức Phật vẫn thường đến đó thuyết pháp. Sau khi Phật diệt độ, nước ao bỗng cạn khô, ngoại đạo bèn phao tin rằng Phật pháp đã suy vi. Tôn giả Phạt-xà-la-phất-đa-la từ châu Bát-thích-noa bay đến, lấy tay chỉ xuống ao, lập tức nước đầy trở lại. Tôn giả bảo mọi người rằng: Nước ao cạn khô vì mọi người không có niềm tin kiên cố nơi Phật pháp. Nếu tất cả đều vâng lời Phật dạy, một lòng tín thọ phụng hành như khi Phật còn tại thế thì tôi bảo đảm nước trong ao sẽ không bao giờ cạn khô.
        Mọi người nghe Tôn giả nói, ngưỡng vọng uy thần và nhiệt tâm hộ trì Phật pháp của Tôn giả nên phát khởi lòng tin Tam bảo. Từ đó nước ao luôn trong xanh và tràn đầy.
    Qua câu chuyện trên chúng ta có thể thấy các bậc La-hán luôn ở tại nhân gian để xiển dương pháp Phật.
        Theo Pháp Trụ Ký, ngài là vị La-hán thứ 8, thường cùng 1.100 vị La-hán? trụ ở châu Bát-thích-noa.   
    15. La Hán Tĩnh Tọa
        Tên của Ngài là Nặc-cù-la 諾矩羅 (Nakula). Trên vách hang thứ 76 của động Đôn Hoàng có vẽ hình tượng Ngài ngồi kiết già trên phiến đá. Theo truyền thuyết, Ngài thuộc giai cấp Sát-đế-lợi sức mạnh vô song, đời sống chỉ biết có chiến tranh chém giết. Khi theo Phật xuất gia, Ngài đạt quả A-la-hán trong tư thế tĩnh tọa.
        Đương thời của Tôn giả, có ngoại đạo Uất-đầu-lam-tử, công phu thiền định cao, từng biện bác với hy vọng chinh phục Tôn giả theo pháp thuật của mình. Nhưng với niềm tin chân chánh, Tôn giả khẳng định rằng chỉ có công phu tọa thiền, quán chiếu bằng trí tuệ, sức nhẫn nhục bền bỉ, nghiêm trì tịnh giới mới đạt được định lực không thối chuyển. Pháp tu luyện ngoại đạo chỉ được định lực tạm thời, không thể an trú vĩnh viễn trong pháp giải thoát, khi gặp cảnh bên ngoài quấy nhiễu sẽ bị hủy hoại.
        Sau này quả nhiên Uất-đầu-lam-tử thọ hưởng sự cúng dường nồng hậu của vua nước Ma-kiệt-đà, vì khởi vọng tâm mà toàn bộ công phu tiêu tán, sau khi chết lại rơi vào địa ngục. Tôn giả Nặc-cù-la dùng thiên nhãn thấy rõ điều ấy, một lần nữa cảnh giác với vua Ma-kiệt-đà: Đó chính là pháp tu không rốt ráo của ngoại đạo, những phiền não căn bản của con người chưa được diệt trừ hết.
        Vua nghe Tôn giả giải thích mới hiểu được Phật pháp chân chánh đáng quý, phát khởi niềm tin nơi Tôn giả.
    Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Nặc-cự-la được xếp vào vị trí La-hán thứ năm, Ngài thường cùng 800 vị A-la-hán trụ ở Nam Thiệm Bộ Châu. 
      16. La Hán Tọa Lộc
        Ngài tên là Tân-đầu-lô-phả-la-đọa 賓頭盧頗羅墮 (Pindolabhāradvāja), xuất thân dòng Bà-la-môn, là một đại thần danh tiếng của vua Ưu Điền. Ngài thích xuất gia nên rời bỏ triều đình vào rừng núi nỗ lực tu tập, sau khi chứng Thánh quả cỡi hươu về triều khuyến hóa vua, nhân đó được tặng danh hiệu La-hán Cỡi Hươu.
        Nhân một hôm Tôn giả dùng thần thông lấy cái bát quý treo trên cây trụ cao của một trưởng giả, bị Phật quở trách việc biểu diễn thần thông làm mọi người ngộ nhận mục đích tu học Phật pháp. Phật dạy Tôn giả phải vĩnh viễn lưu lại nhân gian để làm phước điền cho chúng sanh, vì thế trong các pháp hội Tôn giả thường làm bậc ứng cúng. Một lần ở thời Ngũ Đại, triều vua Ngô Việt thiết trai, có một Hòa thượng lạ, tướng mạo gầy ốm, lông mày dài bạc trắng bay đến ngồi vào chỗ dành cho khách quý mà ăn uống vui vẻ. Ăn xong Ngài tuyên bố Ngài là Tân-đầu-lô. Dưới thời vua A-dục và vua Lương Võ Đế, Ngài đích thân hiện đến giáo hóa, làm tăng trưởng lòng tin. Thời Đông Tấn ngài Đạo An là bậc cao tăng phiên dịch kinh điển thường lo buồn vì sợ chỗ dịch của mình sai sót. Ngài khấn nguyện xin chư Hiền Thánh hiển lộ thần tích để chứng minh. Tối hôm đó Ngài nằm mộng thấy một vị Hòa thượng lông mày trắng nói: Ta là Tân-đầu-lô ở Ấn Độ, lấy tư cách là một đại A-la-hán, ta bảo chứng những kinh điển ông dịch đều rất chính xác.
        Tôn giả Tân-đầu-lô là một vị La-hán rất gần gũi nhân gian, Pháp Trụ Ký xếp Ngài là vị La-hán thứ nhất, thường cùng 1.000 vị La-hán trụ ở Tây Ngưu Hóa Châu.   
    17. La Hán Trầm Tư
        Ngài chính là La-hầu-la 羅喉羅 (Rāhula). Sau khi theo Phật xuất gia, nhờ sự giáo dưỡng của Thế Tôn, Ngài bỏ dần tập khí vương giả và thói xấu trêu ghẹo người, nỗ lực tu tập để chứng Thánh quả. Ngài luôn khiêm cung nhẫn nhục, không thích tranh cãi hơn thua, phòng của mình bị người chiếm ở, Ngài lẳng lặng dời vào nhà xí ngủ qua đêm. Đi khất thực bị bọn côn đồ ném đá trúng đầu chảy máu, Ngài lặng lẽ đến bờ suối rửa sạch rồi tự tay băng bó. Tín chủ cúng cho Ngài một tịnh thất, ít lâu sau đòi lại đem cúng người khác, Ngài cũng bình thản? dọn ra khỏi phòng.
        Sau khi chứng quả A-la-hán, Ngài vẫn lặng lẽ tu tập. Đức Phật khen tặng Ngài là Mật hạnh đệ nhất và chọn Ngài vào trong số 16 La-hán lưu lại nhân gian. Với đức tánh lặng lẽ, Ngài được tặng danh hiệu La-hán Trầm Tư.
    Sau Phật diệt độ, vua nước Câu-thi-na không tin Phật pháp, đập phá chùa viện, thiêu hủy kinh tượng, số người xuất gia giảm sút. Có một Hòa thượng ôm bát vào thành khất thực, nhưng cả thành chẳng ai để ý tới, khó khăn lắm Ngài mới gặp một gia đình tin Phật cúng cho bát cháo nóng. Hòa thượng hớp xong miếng cháo thở dài, thí chủ hỏi thăm thì được Hòa thượng kể lại thời Phật còn tại thế, Ngài cũng từng theo Phật đến đây khất thực, lúc ấy nhà nhà tranh nhau cúng dường, khác hẳn ngày nay. Hòa thượng tiết lộ thân thế mình chính là La-hầu-la, mấy trăm năm nay dốc lòng hoằng dương Phật pháp.
        Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị la-hán thứ mười một, thường cùng 1.100 vị A-la-hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù châu.   
    18. La Hán Trường Mi
        Tên của Ngài là A-thị-đa 阿氏多 (Ajita) thuộc dòng Bà-la-môn nước Xá-vệ. Theo truyền thuyết khi Ngài mới sanh ra đã có lông mày dài rủ xuống, điều báo hiệu kiếp trước Ngài là một nhà sư. Sau khi theo Phật xuất gia, Ngài phát triển thiền quán và chứng A-la-hán.
        Ngài cũng là một trong những thị giả Phật, khi chứng quả xong vẫn thường du hóa trong dân gian. Một hôm đến nước Đạt-ma-tất-thiết-đế, nhân dân nước này không tin Phật pháp, chỉ thờ quỷ thần sông núi. Thái tử nước này bệnh nặng, vua cho mời danh y trị bệnh và thỉnh giáo các nhà tu ngoại đạo. Các vị ấy bảo: “Đại vương chớ lo, bệnh của Thái tử không cần uống thuốc cũng khỏi.” Khi gặp tôn giả A-thị-đa, vua hỏi thử thì Tôn giả bảo rằng bệnh không qua khỏi. Vua rất tức giận bỏ đi. Một tuần sau, Thái tử chết thật, vua tạm thời không tổ chức tang lễ, ngày hôm sau vua đi gặp tôn giả A-thị-đa, Ngài chia buồn với vua, còn khi vua gặp các ngoại đạo thì lại nghe chúc mừng Thái tử hết bệnh. Điều này chứng tỏ các ngoại đạo không có dự kiến đúng đắn. Nhà vua từ đó quy ngưỡng Phật pháp. Nhờ sự hoằng dương của Tôn giả mà Phật pháp hưng thịnh ở nước này.
        Đã hơn 2.000 năm, nhưng tại Ấn Độ vẫn tin rằng tôn giả A-thị-đa còn đang trị bệnh cho người hay tọa thiền trên núi.
        Pháp Trụ Ký xếp Ngài là vị La-hán thứ mười lăm, thường cùng 1.500 A-la-hán trụ trong Linh Thứu Sơn.
  • Tỳ hưu

    Tỳ hưu

        Tỳ hưu là một linh vật cực kỳ quen thuộc, gần như bất cứ ai khi tìm hiểu về phong thủy đều biết rằng Tỳ Hưu là linh vật giữ của và thu hút tài lộc cho gia chủ. Tuy nhiên đặt Tỳ Hưu như nào, phải lưu ý những gì khi đeo Tỳ Hưu thì không phải ai cũng biết. Nếu sử dụng không đúng, có thể khiến gia chủ bị thất thoát tài lộc. Hãy đọc thật kỹ bài viết sau đây để tránh được những sai lầm này nhé:

       Tỳ Hưu là gì – Truyền thuyết về con Tỳ Hưu:

        Theo truyền thuyết, Tỳ Hưu (nhiều người còn gọi là Kỳ Hưu, Tỳ Ngưu, Tu Lì, Tu Lỳ…) là con của Rồng. Được sinh ra sau cùng, nhưng Tỳ Hưu lại bị một dị tật là không có hậu môn, miệng lại rộng và chỉ ăn vàng ngọc châu báu. Thế nên, hình ảnh con Tỳ Hưu gắn liền với ý nghĩa hút tài lộc vào mà không thải ra bao giờ.

        Trong kiến thức dân gian, Long Sinh Cửu Tử (Rồng sinh ra 9 đứa con) bao gồm: Bá Hạ – Li Vẫn – Bồ Lao – Bệ Ngạn – Thao thiết – Công Phúc – Nhai Tí – Toan Nghê – Tiêu Đồ, không có Tỳ Hưu. Tuy nhiên trong một số thu

    yết khác, Tỳ Hưu lại là đứa con út của rồng. Bởi lẽ là kiến thức truyền miệng, không thể khẳng định đâu là đúng đâu là sai.

        Thế nên bạn đừng bất ngờ nếu đọc truyền thuyết về 9 đứa con của Rồng nhưng lại có đến hơn mười con.

       Công dụng của Tỳ Hưu:

        Trong công việc kinh doanh, Tỳ Hưu là linh vật chiêu tài vô cùng hiệu nghiệm được các doanh nghiệp lớn sử dụng. Thậm chí tất cả các sòng bài lớn nhỏ ở Macau, Singapore, Hongkong đều đặt Tỳ Hưu với mục đích giữ của. Ở những nơi này, Tỳ Hưu được đặt trong lồng kính và được giữ cẩn thận vì việc mất cắp Tỳ Hưu được xem là điềm xui xẻo cho gia chủ.

        Ở Việt Nam, thậm chí có những công ty Bất động sản lớn đưa hình ảnh con Tỳ Hưu vào làm logo. Tựu chung, Tỳ Hưu là linh vật được dùng để chiêu tài chiêu lộc, giúp làm ăn phát đạt, sự nghiệp thăng tiến, củng cố địa vị, trấn trạch hưng gia, bảo trợ sức khỏe.

        Trưng Tỳ Hưu trong văn phòng làm việc, trong nhà còn thể hiện sự giàu có của gia chủ. Tặng Tỳ Hưu cho bạn bè, người thân, cho sếp thể hiện ước muốn cầu chúc cho người đó nhận được nhiều may mắn, tài lộc.

     

      Các loại Tỳ Hưu phong thủy:

        Tỳ Hưu có thể làm bằng nhiều loại vật liệu khác nhau. Nhưng tốt nhất là bằng Ngọc, sau đó tới đá tự nhiên và đồng. Sau này, xuất hiện thêm loại Tỳ Hưu bằng bột đá, bằng nhựa.

        Sở dĩ Tỳ Hưu bằng đá tự nhiên được yêu thích vì đá tự nhiên thường tích tụ linh khí trời đất trong hàng triệu năm, nên cát khí phong thủy nhiều, tác dụng tốt hơn trong việc chiêu tài. Tuy nhiên, đối với Tỳ Hưu bằng bột đá hoặc nhựa, nếu được khai quang điểm nhãn đúng cách vẫn có công năng phong thủy tốt.

    Xem thêm https://dkmnhuynhbaminh.com/vat-pham-phong-thuy-bang-da/